Hiệu quả từ mô hình trường học mới Năm học 2012-2013, Vụ Giáo dục Tiểu học đã mạnh bạo khai triển thí điểm mô hình trường mới (VNEN) cho 1447 trường tiểu học của 63 tỉnh, thành phố. Học trò và thầy đã dần thích nghi với mô hình VNEN (tổ chức lớp học và hoạt động dạy, học,…). Học trò đã quen với cách học theo nhóm, dưới sự chỉ dẫn của nhóm trưởng; được rèn luyện nhiều hơn các kỹ năng nghe, nói; tự tin, tích cực và chủ động dự sôi nổi, phấn chấn vào bài học; bước đầu hình thành thói quen làm việc trong môi trường tương tác. Càn hạn chế giải thích thuyết trình, tập trung vào việc quan sát, chỉ dẫn, tổ chức học tập, hỗ trợ học trò, thúc đẩy quá trình học tập của học trò. Các lớp học VNEN được trang hoàng đẹp, sinh động, thân thiện, tạo hứng thú cho học trò trong học tập và hoạt động giáo dục với những điểm mới như Sơ đồ tự quản, Góc cộng đồng, Thư viện, Hộp thư vui,… Điều đáng mừng là cha mẹ học sinh và cộng đồng đồng thuận, ủng hộ và tích cực tham dự tương trợ cho nhà trường, đay đả và học sinh khai triển VNEN duyệt y các hoạt động cụ thể như trang trí lớp học (góc địa phương, góc cộng đồng), cùng tham gia các hoạt động vận dụng với học trò. Ngành GD cũng đã tổ chức khai triển kế hoạch tập huấn hè cho 378 cốt cán trung ương và 3.730 nòng cốt cấp tỉnh chuẩn bị cho dạy học lớp 4 mô hình trường mới; chuẩn bị sách lớp 4 và hỗ trợ kinh phí, cung cần thiết bị dạy học đúng tiến độ. Năm học 2013 – 2014 có 18 tỉnh, thành phố đăng ký mở mang mô hình dạy học mới, với số lượng gần 32.000 học sinh dự.
Chất lượng giáo dục ngày được nâng cao Chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc miền núi trong niên học vừa qua được đẩy mạnh. Các Sở nối thực hành tăng thời lượng hợp với điều kiện tại địa phương. Một số tỉnh duy trì tốt việc chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước tuổi đến trường theo nội dung của Dự án PEDC từ những niên học trước. Các tỉnh Lào Cai, Trà Vinh và Gia Lai bước đầu thực hành có kết quả chương trình nghiên cứu thực hành giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ. Việc xây dựng môi trường giao tiếp tiếng Việt được thực hiện với nhiều nội dung phong phú và đã có tác dụng tốt, giúp học trò sử dụng thuần thục tiếng Việt trong thực tại. Bên cạnh đó, dạy tiếng Việt theo tài liệu công nghệ giáo dục cho 19 tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng, Sơn La, Quảng Bình, Kon Tum, Bình Phước, Ninh Thuận, Tây Ninh, Kiên Giang, Cà Mau, Lạng Sơn, Hòa Bình, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Hải Dương và Nam Định.Nhờ quá trình chuẩn bị, tập huấn kĩ lưỡng, việc rà soát, đánh giá chém đẹp, kết quả môn Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục niên học 2012 – 2013 có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều nhiều tỉnh có đông học sinh dân tộc tỷ lệ học sinh yếu giảm dần như Quảng Bình (1%), Lai Châu (1,5%), Hòa Bình (1,5%), Tuyên Quang (2,4%), Sơn la (3,7%). Một số tỉnh đã thực hiện tốt quy trình tổ chức triển khai nhằm mục đích mở mang mô nghe đâu Nam Định, Hải Dương, Lâm Đồng, Cao Bằng, Lạng Sơn. Có thể nói, việc dạy và học Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục không chỉ giúp HS nắm chắc kiến thức cơ bản về tiếng Việt và hình thành đồng thời các kĩ năng nghe - nói - đọc - viết một cách vững chắc mà HS luôn được tham dự các hoạt động học tập một cách chủ động, tự tin. Chuẩn y việc làm, các thao tác học, các em tự tìm ra và chiếm lĩnh tri thức, được phát huy khả năng tư duy và năng lực tối ưu của mình. Đồng thời quá trình dạy học theo phương pháp Công nghệ giáo dục không chỉ giúp GV nâng cao trình độ và năng lực nghiệp vụ sư phạm mà cách tổ chức dạy học theo quy trình công nghệ còn giúp GV đổi mới phương pháp một cách triệt để. Niên học 2012 – 2013, chương trình tiếng Anh tiểu học đã được triển khai cho 291.020 học trò lớp 3 và 92.417 học sinh lớp 4 ở các tỉnh có đủ điều kiện về thân phụ, cơ sở vật chất; 13.000 học trò lớp 5 ở các tỉnh dự thể nghiệm. Các Sở GD& ĐT khai triển tốt công tác đào tạo, bồi bổ cha nội đạt chuẩn và tập huấn nâng cao năng lực giảng dạy và kiểm tra đánh giá tiếng Anh tiểu học. Ngoại giả, cấp Tiểu học cũng khai triển dạy học tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nhật theo lịch trình. Tiếp hội tụ chỉ đạo dạy học và rà đánh giá kết quả học tập theo chuẩn tri thức, kĩ năng các môn học là một trong những nhiệm vụ trọng điểm ở Tiểu học trong thời kì qua. Bộ GD&ĐT đã tổ chức tập huấn cho trưởng phòng Tiểu học, trưởng phòng GD&ĐT về dạy học và rà soát, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học. Bước vào năm học 2013 - 2014, Giáo dục Tiểu học với những định hướng cụ thểquyết tâm sẽ hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong tâm của niên học: tiếp kiến chỉ đạo việc quản ngại, tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng; điều chỉnh nội dung dạy học hiệp đặc dằn bụng sinh lí học sinh tiểu học; tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống; chỉ đạo triển khai hiệu quả mô hình trường tiểu học mới; đổi mới đồng bộ phương pháp dạy, phương pháp học và rà, đánh giá; tăng cường nhịp tiếp cận giáo dục cho trẻ em có cảnh ngộ khó khăn; tăng cường tiếng Việt cho học trò dân tộc thiểu số, từng bước mở rộng ứng dụng dạy học theo tài liệu Tiếng việt lớp 1 Công nghệ giáo dục; tiếp triển khai dạy học ngoại ngữ theo chương trình mới ở những nơi có đủ điều kiện; duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; đẩy mạnh xây dựng trường chuẩn quốc gia và tổ chức dạy học 2 buổi/ngày.
Thực hiện tốt phổ cập giáo dục tiểu học và xây dựng trường chuẩn quốc gia Giữ vững kết quả và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, niên học 2012 – 2013, 2 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạnđã được xác nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi chừng độ 1; 3 tỉnh Bắc Ninh, Nam Định và Hải Dương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2; công nhận lại đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi chừng độ 1 cho 33 tỉnh. Đến thời điểm tháng 6/2013, có 61/63 tỉnh, đô thị đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, trong đó có 4 tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2. Về nhiệm vụ tiếp chuyện chỉ đạo xây dựng và xác nhận trường tiểu học đạt Chuẩn nhà nước, niên học 2012 – 2013, đã xác nhận thêm 334 trường mức độ 1 và 107 trường mức độ 2. Đến tháng 6/2013 có 7.390/15.273 trường tiểu học đạt Chuẩn nhà nước (đạt 48,38 %), trong đó có 1.078 trường đạt Chuẩn mức độ 2. Các trường đã đạt Chuẩn nhà nước mức độ 1 có kế hoạch cụ thể đầu tư cho chất lượng để đạt Chuẩn nhà nước mức độ 2, tạo điều kiện cho học trò được học tập trong trường tiểu học chất lượng tốt. Tiêu biểu là các tỉnh Ninh Bình đạt 100% trường tiểu học đạt Chuẩn quốc gia; Hải Dương công nhận thêm: 33 trường, Hà Nội: 28 trường, Long An: 24 trường, Cà Mau: 24 trường. Minh Châu |

