Đặc biệt, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tư vấn hiệu quả với Tỉnh ủy, UBND tỉnh và chỉ đạo thực hành xuất sắc Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về các nhiệm vụ trọng điểm năm học của các bậc học, cấp học. Trong đó, nổi bật là đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục để thực hiện có hiệu quả các nội dung công tác: xây dựng TCQG, tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, triển khai Dự án mô hình trường học mới ở tiểu học và triển khai dạy học ngoại ngữ đến 2020 theo Đề án 1400 của Chính phủ. 1. Về quy mô phát triển: thực hành Đề án quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, hệ thống giáo dục và đào tạo tỉnh Nghệ An tiếp được củng cố với hệ thống trường, lớp càng ngày càng hợp lý. Cụ thể: - Giáo dục măng non có 515 trường (trong đó, có 499 trường công lập, 5 trường tư thục, 11 trường tư thục); - Giáo dục tiểu học có 539 trường, trong đó, có 1 trường ngoài công lập; - Giáo dục trung học cơ sở có 412 trường (trong đó có 24 trường phổ quát nhiều cấp học); - Giáo dục trung học phổ thông có 92 trường; trong đó, công lập 69 trường, ngoài công lập 23 trường; - Giáo dục chuyên nghiệp trực thuộc tỉnh có 1 trường đại học, 3 trường cao đẳng, 5 trường trung cấp chuyên nghiệp; - Giáo dục thẳng tuột có 21 trọng tâm; 480/480 xã, phường, thị trấn có trọng tâm học tập cộng đồng; Tiếp tục quán triệt quyết nghị quyết nghị số 05/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh từng lớp hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao và các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An đã chủ động tham vấn UBND tỉnh ban hành Quyết định 6363/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 duyệt y Đề án “Đẩy mạnh tầng lớp hóa giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2015 có tính đến năm 2020”. Nội dung của Đề án trên cơ sở đánh giá tình hình thực hành từng lớp hóa GD theo tinh thần Nghị quyết 05 của Chính phủ, tiếp khai triển nhiệm vụ và giải pháp đẩy mạnh tầng lớp hóa giáo dục tuổi 2010-2015. Tiếp theo, Sở đã tham mưu UBND tỉnh ban hành các quyết định cụ thể trên các lĩnh vực như: - Quyết định 70/QĐ- UBND, ngày 11/8/2009 quy định mức thu dạy thêm có tổ chức trong trường công lập và thu xã hội hóa trong dạy học 2 buổi/ngày, bán trú ở tiểu học; - Quyết định số 07/2010/QĐ-UBND ngày 19/01/2010 của UBND tỉnh ban hành quy định một số chính sách khuyến khích tầng lớp hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An; - Quyết định số 5600/QĐ-UBND.VX ngày 22 tháng 11 năm 2010 về việc chuẩn y “Kế hoạch dạy và học ngoại ngữ trên địa bàn tỉnh Nghệ An thời đoạn 2010-2020”; - Quyết định số 65/QĐ-UBND.VX ngày 07 tháng 01 năm 2011 về việc ban hành Quy định mức thu học phí trong các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh Nghệ An; - Quyết định số 4954/QĐ-UBND ngày 16/11/2011 về định mức tương trợ kinh phí trường đạt chuẩn quốc gia và trường trọng tâm; - Quyết định số 565/QĐ-UBND.VX ngày 06/02/2013 ưng chuẩn Đề án về chống mù chữ, phổ cập giáo dục trên địa bàn Nghệ An giai đoạn 2012-2020; - Quyết định số 865/QĐ-UBND.VX ngày 14/3/2013 về việc ưng chuẩn đề án Xây dựng xã hội học tập ở Nghệ An giai đoạn 2012-2020; vv Các văn bản trên đã tạo cơ sở pháp lý thuận tiện cho công tác chỉ đạo và tổ chức thực hành của Sở GD&ĐT trên các lĩnh vực hoạt động. Đặc biệt, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc vận động toàn tầng lớp tham gia giáo dục trên mọi bình diện đóng góp trí óc, nguồn lực và trực tiếp dự vào một số hoạt động giáo dục của nhà trường. Từ đó, đã tạo ra hiệu quả hăng hái không những tạo thêm nguồn lực cho ngành mà còn góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục. 3. Đánh giá hiệu quả công tác XHHGD trên các lĩnh vực công tác: A) Về xây dựng trường chuẩn nhà nước: Xác định vận động XHHGD để xây dựng TCQG là giải pháp quản lý vững bền nhất nhằm phát triển giáo dục, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu đưa nội dung xây dựng TCQG vào đích kế hoạch của nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh và Hội đồng quần chúng tỉnh cũng như kế hoạch hằng năm. Cho nên, xây dựng TCQG đã trở thành nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị; trong đó, ngành giáo dục là lực lượng nòng cốt trong tham mưu, chỉ đạo và tổ chức thực hành. Các địa phương phân định rõ nhiệm vụ của chính quyền là xây dựng CSVC đảm bảo theo chuẩn và thực hiện công tác tầng lớp hóa giáo dục, nhiệm vụ của nhà trường là thực hiện tốt công tác quản lý, xây dựng hàng ngũ, tổ chức dạy học đảm bảo chất lượng. Hằng năm, các địa phương đều xây dựng lộ trình đạt chuẩn chuẩn y Hội đồng nhân dân làm căn cứ thực hành. Nhờ tham vấn và thực hiện tốt công tác XHHGD nên dù rằng kinh tế, tầng lớp gặp nhiều khó khăn, đầu tư công cho giáo dục và đào tạo cơ bản bị cắt giảm nhưng tiến độ và hiệu quả xây dựng TCQG ở Nghệ An trong những năm gần đây vẫn bảo đảm; trung bình mỗi năm có thêm 50 – 60 trường đạt chuân QG. Đến cuối niên học 2012 – 2013, toàn tỉnh có 815 trường đạt chuẩn quốc gia các cấp học, tỷ lệ 52,2% số trường trong tỉnh. Trong đó, tiểu học đạt 427/539 trường, tỷ lệ 80%; mầm non 241/515 trường, tỷ lệ 47%; THCS có 128/412 trường, tỷ lệ 31%; THPT 19/92 trường, tỷ lệ 21%). Cũng nhờ làm tốt công tác XHHGD nên huyện Quỳ Châu là đơn vị miền núi đặc biệt khó khăn nhưng có 100% trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Nghệ An phấn đấu đến năm 2015 có trên 65% số trường đạt chuẩn nhà nước ở các cấp học. B) Về khai triển dạy học ngoại ngữ theo Đề án 1400 của Chính phủ: Giáo dục Nghệ An nhiều năm được ghi nhận là địa phương có nhiều thành công trong giáo dục phổ quát nhưng thanh niên Nghệ An vào học các trường đại học, ra trường lập nghiệp luôn chịu thiệt thòi vì thiếu kỹ năng ngoại ngữ. Nhận thức được điều đó, Sở GD&ĐT đã chủ động tư vấn UBND tỉnh sớm có chủ trương về khuyến khích dạy học ngoại ngữ từ tiểu học. Sau khi Chính phủ duyệt y Đề án dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân tuổi 2008 – 2020, Sở GD&ĐT đã chủ động tư vấn UBND tỉnh ban hành Quyết định số 5600/QĐ- UBND, ngày 22/11/2010 về Kế hoạch dạy học NN trên địa bàn tỉnh Nghệ An thời đoạn 2010 – 2020. Tiếp theo đó, ngày 31/10/2012, UBND tỉnh ban hành hình định số: 4334/QĐ-UBND về việc ưng chuẩn Dự án đầu tư nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ trong trường phổ thông tỉnh Nghệ An tuổi 2012-2015 với tổng mức đầu tư hơn 300 tỷ đồng trong thời gian 3 năm. Thực hiện các quyết định của UBND tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo hàng năm đã triển khai kế hoạch tụ hợp vào các nội dung sau: - Thứ nhất:giao hội công tác chuẩn bị và bồi dưỡng đội ngũ: phối hợp với các trường đại học Vinh, Đại học Huế tổ chức các khóa bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho GV; Tổ chức bồi bổ cho GV dự thi sát hạch bằng ngân sách của tỉnh; phối hợp với trọng điểm Khảo thí Đại học Cambridge tổ chức sát hạch trình độ bảo đảm chuẩn xác, nghiêm trang và khách quan, tạo động lực cho GV tự bổ dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ. - Thứ hai:triển khai trang bị TBDH, Phòng học ngoại ngữ theo Hướng dẫn của Bộ GD&ĐT. Hàng năm, theo lịch trình khai triển, Sở tổ chức mua sắm và trang bị phòng học NN cho các trường có GV đạt chuẩn và tổ chức dạy học từ lớp 3. Đến năm học 2012 – 2013, có 100 trường tiểu học, 52 trường trung học và TTGDTX được trang bị phòng học ngoại ngữ đồng bộ. Thứ ba: Đẩy mạnh xã hội hóa, đa dạng hóa quá trình dạy học ngoại ngữ. Với chủ trương này, ngành GD đã tranh thủ được sự tham dự của phụ huynh ngày càng mạnh mẽ và đưa đến hiệu quả cao. Nhờ làm tốt công tác tham mưu, công tác từng lớp hóa GD mà Kế hoạch dạy học NN theo chương trình 10 năm từ tiểu học ở Nghệ An được triển khai đúng tiến độ và bảo đảm chất lượng. Mỗi năm, có thêm khoảng 100 trường tiểu học có GV đạt chuẩn để khai triển dạy NN; đến năm 2015, 100% số trường vùng tiện lợi có đủ GV đạt chuẩn để dạy NN ở tiểu học. Bậc trung học khai triển dạy thí điểm lớp 6 ở 3 trường THCS và thí điểm dạy các môn khoa học thiên nhiên bằng tiếng Anh ở Trường THPT Lê Viết Thuật khá thành công. Chất lượng dạy học NN ở phổ thông đã được cải thiện rõ rệt. Liên tục 3 năm, đoàn HS tiểu học Nghệ An tham gia giao lưu HSG nghe nói tiếng Anh đều đạt kết quả xuất sắc; tham dự cuộc thi nhà nước về tiếng Anh trên mạng INTERNET có 111 học sinh tham gia, kết quả đạt 8 HCV, 17 HCB, 36 HCĐ; dự cuộc thi Olympia Toán bằng tiếng Anh, đoàn nghệ An là một trong 2 đoàn dẫn đầu trong số các đơn vị tham dự. C) Về tổ chức dạy học 2 buổi/ngày ở tiểu học và THCS: Từ năm học 2007 – 2008, Sở GD&ĐT đã hăng hái tham vấn chuẩn bị CSVC, hàng ngũ GV để tổ chức dạy học 2 buổi/ngày từ tiểu học. Trong điều kiện ngân sách chưa đủ để bố trí biên chế theo Thông tư 35, ngành đã tư vấn cơ chế từ từng lớp hóa nguồn lực và chỉ đạo các trường đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để tổ chức dạy học 2 buổi/ngày ở tiểu học. Theo đó, biên chế được bố trí vùng khó khăn là 1,4 GV/lớp, vùng tiện lợi là 1,2 GV/lớp; các trường được thu từ phụ huynh 66.000đ/HS/tháng để hợp đồng thêm tối thiểu 1,5 GV/lớp. Kết quả sau 3 năm thực hành, Nghệ An đã thực hiện thành công chủ trương dạy học 2 buổi/ngày ở tiểu học bằng nguồn kinh phí tầng lớp hóa. Niên học 2012- 2013, toàn tỉnh có 98,5% số học sinh được học 2 buổi/ngày; nguồn thu từ tầng lớp hóa đạt hằng năm khoảng 160 tỷ bổ sung cho chi lương GV hợp đồng và các hoạt động chuyên môn của nhà trường. Nhờ nguồn thu này, ngành đã chỉ đạo thành công dạy học ngoại ngữ, tin học ở 86% số trường tiểu học, nâng cao chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số và chất lượng giáo dục toàn diện với các chương trình giáo dục linh hoạt, hiệp như đưa hát dân ca, trò chơi dân gian, thể dục EROBIC, giáo dục vệ sinh học đường bằng chương trình rửa tay với xà phòng vào trường, xây dựng thư viện và Văn hóa đọc ở trường tiểu học nhằm phát triển các năng lực và kỹ năng sống cho học trò. Ở cấp THCS, ngành chỉ đạo các trường có đủ GV dạy học tăng thời lượng trên 6 buổi/tuần nhằm giản thời lượng học tập, củng cố KT- KN cho học trò. D) Về triển khai Dự án Mô hình trường học mới: Niên học 2012 – 2013, GD tiểu học Nghệ An có 73 trường thực hiện Dự án, chủ yếu ở các huyện miền núi. Nhận thức đây là dịp để đổi mới quá trình tổ chức dạy học, giáo dục, đổi mới sư phạm theo hướng dạy học hăng hái, Sở GD&ĐT đã có văn bản bẩm UBND tỉnh và chỉ đạo các trường tích cực chuẩn bị các điều kiện về CSVC, hàng ngũ GV cho việc triển khai Dự án. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động xã hội hóa, ngay từ ngày đầu triển khai, mặc dù chưa có sự tương trợ từ Dự án, các trường đã nhận được sự quan tâm to lớn của phụ huynh học sinh và các tổ chức từng lớp. Các phòng học được bổ sung công cụ dạy học, hoạt động cho học trò, khu giáo dục thể chất, khu vệ sinh được trang bị thêm các thiết bị vui chơi vận động, bồn rửa tay để thực hành giáo dục kỹ năng rửa tay với xà phòng. Mỗi trường thực hành Dự án được nhân dân hỗ trợ hàng trăm triệu đồng để bổ sung CSVC. Điển hình như huyện miền núi Quỳ Châu, Tân Kỳ có 100% trường tiểu học thực hành Dự án được phụ huynh góp công, góp tiền xây dựng công trình vệ sinh nước sạch và hệ thống thiết bị rửa tay với xà phòng. Vấn đề trung tâm của Dự án Mô hình trường mới là tổ chức lại quá trình sư phạm trong dạy học, giáo dục được ngành quan tâm chỉ đạo ngay từ đầu với phương châm “kiền dạy ít để học trò được học nhiều hơn”. Kiền được tập huấn kỹ lưỡng, được tham gia các hoạt động tẩm bổ về kỹ năng sư phạm như hội thảo, dự giờ đúc rút kinh nghiệm nên đã chóng vánh nắm được phương pháp, kỷ thuật dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục. Đến thời điểm này, chúng tôi hoàn toàn yên tâm với hướng đi và hiệu quả tác động của Dự án về sự phát triển nhanh, bền vững về các kỹ năng mấu chốt và năng lực của học trò. Dự án ngay từ năm đầu đã có sức lan tỏa nhanh và mạnh đến cả hệ thống GD tiểu học trên địa bàn tỉnh. C. Bài học kinh nghiệm Từ điều kiện là một tỉnh nghèo, nguồn lực đầu tư từ quốc gia còn ở mức thấp nhưng người dân quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, ngành giáo dục Nghệ An đã chủ động làm tốt công tác tham vấn, hăng hái chỉ đạo đẩy mạnh công tác, vân động, tuyên truyền, công tác từng lớp hóa giáo dục để tranh thủ mọi đóng góp, tương trợ từ xã hội về trí lực, nhân công và tài lực cho giáo dục. Nhờ vậy, các đích về xây dựng TCQG, dạy học 2 buổi/ngày, dạy học ngoại ngữ và khai triển Dự án Mô hình trường học mới ở Nghệ An được triển khai thực hành khá chắc chắn, mang lại hiệu quả thực sự cho phát triển giáo dục ở địa phương. Từ kết quả đạt được, bài học kinh nghiệm được đúc kết là: Thứ nhất: Phải chủ động, sáng tạo trong công tác tham vấn, tuyên truyền vận động; Thứ hai: Xây dựng được các mô hình tiền tiến ở các điều kiện GD khác nhau; Thứ ba: Chỉ đạo tụ hội, kịp thời đánh giá và nhân rộng kết quả trong toàn ngành. Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An |