Viện y khoa thuộc Viện hàn lâm khoa học Mỹ có liệt kê 13 bệnh có liên hệ trực tiếp đến chất da cam

Thứ ba , do thiếu nhân công, tài lực để tiến hành công việc điều tra, khảo sát, thẩm định, thống kê NNDC.
Giá cho một mẫu xét nghiệm đi-ô-xin trong máu, mỡ người là 1. Về hậu quả, những căn bệnh được xác nhận là hậu quả của tác nhân da cam theo Quyết định số 09 ngày 20/2/2008 của Bộ Y Tế công bố gồm có 17 loại bệnh: Ung thư phần mềm ; U lympho không Hodgkin ; Ung thư Hodgkin ; Ung thư phế quản-phổi ; Ung thư khí quản ; Ung thư thanh quản ; Ung thư tiền liệt tuyến ; Ung thư gan nguyên phát ; Bệnh đau xương tủy ác tính ; Bệnh thần kinh ngoại biên cấp tính và bán cấp tính ; Tật gai sống chẻ đôi; Bệnh trứng cá do clo; Bệnh đái tháo đường týp 2 ; Bệnh Porphyrin xuất hiện chậm ; Các thất thường sinh sản ; Các dị hình, dị tật bẩm sinh (đối với con của những người bị nhiễm chất độc hóa học/đi-ô-xin) ; Rối loạn tâm thần.
Thứ nhất , do trình bày lâm sàng của tất cả các loại bệnh, các tai nạn sinh sản, các quái đản, dị tật do chất da cam gây ra đều giống các loại đã có từ xa xưa trong xã hội loài người. Số dân sống ngoài các khu dân cư, sống trong rừng núi hoặc sống trong các vùng do chính quyền cách mệnh kiểm soát chưa được tính đến.
Trong những thập kỷ 70, 80, 90 của thế kỷ 20 và trong thập kỷ trước nhất của thế kỷ 21 vẫn có những trẻ thơ sinh ra là NNDC.
Người nào mắc những bệnh hoặc sinh con có quái đản, dị tật tuy hợp với danh mục bệnh tật đã được nhà nước công nhận, nhưng xảy ra trước ngày 10-8-1961 thì không phải là NNDC. 220 người tham gia vụ kiện tập thể của các cựu chiến binh Mỹ bị nhiễm chất da cam đòi bồi hoàn (1).
Ở Việt Nam, địa điểm phơi nhiễm được công nhận là những vùng đất từ vĩ tuyến 17 trở vào, vùng biên thuỳ Việt-Lào, biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, 20 xã thuộc bờ bắc sông Bến Hải (Vĩnh Linh, Quảng Trị), khu vực đèo Mụ Giạ (Quảng Bình).
Về phơi nhiễm, có phơi nhiễm trực tiếp và phơi nhiễm gián tiếp. Căn do là do cơ chế gây bệnh của chất da cam chưa được làm rõ. Nhiều nạn nhân đã chết.
Riêng số NNDC của các nước tham chiến cùng Mỹ như Úc, New Zealand, Thái Lan chưa được thống kê. Ở Việt Nam hiện chưa tiến hành tổng điều tra số lượng NNDC trong toàn quốc. Vậy trường hợp nà bệnh do chất da cam, trường hợp nào bệnh do các nguyên do khác gây ra ? Khoa học vẫn chưa khẳng định được.
Thứ hai , do số lượng nạn nhân luôn biến động. # Của những nước đã từng mua và dùng chất diệt cỏ của Mỹ, từng có các nhà máy hóa chất Mỹ hoạt động hoặc là kho lưu giữ, trung chuyển hay bị Mỹ đem chôn giấu lén lút chất da cam còn lại sau chiến tranh Việt Nam (như Hàn Quốc, Nhật Bản) mới biết rằng họ cũng là NNDC.
453 nạn nhân. 015. Ảnh: LÊ ĐĂNG duyên cớ là thời kì và không gian phơi nhiễm chất da cam. Theo số liệu của nữ khoa học gia người Mỹ Sten-man, ở Việt Nam có khoảng 4,8 triệu người bị phơi nhiễm, trong đó có 1,3 triệu người là nạn nhân.
Nhiều nhà khoa học cho rằng chất da cam làm suy giảm sức đề kháng, làm suy giảm tất thảy hệ thống miễn nhiễm của con người nên bệnh tật do đi-ô-xin gây ra không dừng lại ở con số 13.
Không phải mọi người bị phơi nhiễm chất da cam đều mắc bệnh và không phải tất cả con, cháu của NNDC đều mắc bệnh, đó là điều mà khoa học chưa giải thích được.
Theo Hội chất độc da cam Ca-na-da, tại cứ Ghết-tao, nơi Mỹ phun rải thể nghiệm chất da cam trước đây cũng có 1. Thiếu một trong hai yếu tố đã nêu thì không phải là NNDC. Người dân đã dùng các thùng ấy để chứa nước, cất giữ lúa, khoai, sắn, đỗ, lạc. Để xét nghiệm cho hàng chục vạn (chưa nói đến hàng triệu nạn nhân) là điều mà ngân sách chẳng thể kham nổi.
Họ là nạn nhân da cam do di truyền gien khiếm khuyết của ông, bà, bố, mẹ hoặc qua bú sữa mẹ là những NNDC. Nhà khoa học Nga Xa-phrô-nốp lại cho rằng số người Việt Nam bị phơi nhiễm là 20 triệu người, bao gồm cả số dân ở vùng bị trực tiếp phun rải và vùng lan tỏa theo làn gió và dòng nước.
Luật sư LÊ ĐỨC TIẾT (Văn phòng Luật sư, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam).
Có một thực tế chứng minh là trong số 63 tỉnh, thành trong toàn quốc thì hầu như tỉnh, thành nào cũng có NNDC.
Có những người chết mà không biết hoặc biết nhưng chưa được xác nhận là nạn nhân da cam (NNDC). 200 - 1. Với người Mỹ, theo quy định của Mỹ, những ai đã đặt chân lên đất Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh mà mắc bệnh thuộc danh mục được Viện Y học Mỹ công bố đều được hưởng trợ cấp thương tổn do chất da cam. Phơi nhiễm gián tiếp là những con, cháu của những nạn nhân da cam.
Con số 4,1 triệu người phơi nhiễm và 1,3 triệu nạn nhân là do nữ khoa học gia người Mỹ Sten-man nêu ra. Việc công nhận là NNDC bây chừ được thực hành bởi các Hội đồng thẩm định mà thành phần gồm có đại diện của các ngành : Y tế, lao động-Thương binh và xã hội, Hội nạn nhân chất độc da cam, Hội Cựu chiến binh, MTTQ.
Trong lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới, hiếm có cuộc chiến tranh nào gây tổn hại nhiều sinh mạng cho một quốc gia như cuộc chiến tranh hóa học mà Mỹ đã gây ra ở Việt Nam. 410 người. Những người tuy có bệnh tật hoặc sinh con dị dạng, dị tật nhưng không có thời gian lao động, công tác, đương đầu tại các vùng bị phun rải chất da cam thì không phải là nạn nhân da cam.
Lính Mỹ thuộc lực lượng hải quân Mỹ đang khiếu nại đòi được trợ cấp như những người hoạt động trên lục địa. 000 người, song thiệt hại về người do chất độc da cam/dioxin gây ra lớn hơn gấp nhiều lần con số ấy.
Trong thời chiến, có những nơi, những thùng chứa chất da cam sau khi hút hết được đem bán cho dân hoặc cho không. Thiệt hại do hai quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống hai thị thành Hi-rô-si-ma và Na-ga-da-ki trong chiến tranh thế giới lần hai là 210.
Duyệt y vụ kiện của các NNDC Việt Nam tại Mỹ năm 2004, quần chúng.
Cán bộ Hội Chất độc da cam/dioxin Việt Nam thăm gia đình ông Trần Văn Trâm (xã Cam Tuyền, Cam Lộ, Quảng Trị) có 4 người con bị nhiễm chất độc da cam. Do đó, tổng số nạn nhân chất da cam của Mỹ sẽ không dừng lại ở một, hai triệu người mà nhiều hơn thế.
Bên cạnh 3 nguyên cớ đã nêu còn có nguyên do do hồ sơ, giấy tờ chứng minh (là người đã từng hoạt động trong các vùng bị rải chất da cam) bị thất lạc bởi nhiều căn nguyên. Việc xác nhận là NNDC ở Việt Nam cũng như ở Mỹ và các nước khác hiện giờ đều dựa vào hai tiêu chí: nguyên cớ làm nảy bệnh tật và hậu quả gây ra các bệnh tật thuộc danh mục được nhà nước xác nhận.
Công việc này đòi hỏi nhiều thời kì và chi phí về tiền nong. Số lượng nạn nhân da cam Mỹ lớn hơn con số này. Theo tài liệu của Mỹ, đến đầu năm 1979 đã có 52. Người được xét công nhận là NNDC phải là người có đủ hai yếu tố: nguyên nhân và hậu quả.
Ở Việt Nam, thời kì bị phơi nhiễm được tính bắt đầu từ 10-8-1961 trở về sau. 830 cựu chiến binh được dấn là NNDC. Phơi nhiễm trực tiếp là những người có tiếp xúc trực tiếp với chất da cam, bao gồm những người bị phun rải, những người sống, hoạt động trong những điểm nóng, tức vùng có tồn lưu chất độc dioxin cao.
Theo ít hàng năm của Bộ CCB Mỹ, số lượng CCB da cam Mỹ nhận được trợ cấp thương tật đã tăng lên 20% trong tuổi 2003-2008, đạt đến con số 1.
Theo thống kê của Hội NNDC Hàn Quốc, tính đến 31-12-2005 đã có 93. Và họ đã tự đầu độc mình mà không biết. Còn nhiều CCB Mỹ vẫn chưa được công nhận là nạn nhân da cam.
Họ chính là những bên nguyên tiềm năng của các vụ kiện đòi Chính phủ mình, Chính phủ Mỹ hoặc các công ty hóa chất Mỹ phải đền bù. Bà Sten-man cho rằng con số đó chưa đầy đủ bởi bà thống kê cứ vào số dân tại các khu vực bị phun rải theo bản đồ của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
500 USD. Việc xác định có đúng là bệnh thuộc danh mục của Bộ Y tế công bố hay không được thực hành phê chuẩn Hội đồng giám định y học. Họ cho rằng mình cũng bị tổn thương bởi những đám sương da cam từ lục địa bị gió thổi bay ra biển.