Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Mô hình giám sát mới đảm bảo sự phát triển vững thay mới bền của tài chính doanh nghiệp.

Hai là,    phân định rõ mối quan hệ giữa các chủ thể thực hành giám sát tài chính: -   Đối với DN:   tụ họp vào hệ thống quản lý, Hội đồng quản trị và các ban điều hành, trong đó DN phải tự xây dựng được hệ thống kiểm soát hay kiểm toán nội bộ và xây dựng được mẫu biểu hệ thống thu thập thông tin từ công ty con đến công ty mẹ hoặc công ty bộ phận đến công ty độc lập

Mô hình giám sát mới đảm bảo sự phát triển bền vững của tài chính doanh nghiệp

Về tính kịp thời của việc giám sát: việc giám sát theo Quyết định số 224/2006/QĐ-TTg thực hiện mỗi năm một lần, sau khi DN đã hoàn thành việc kiểm toán độc lập bẩm tài chính. Hẳn nhiên, trong quá trình thực hiện, vẫn cần tiếp chuyện phải nghiên cứu hoàn thiện, nhưng trước mắt Nghị định này sẽ giúp cho chúng ta tin tưởng.

Bốn là  ,  hệ nguyên soái tài được thiết kế cụ thể, đủ mạnh và rõ ràng đối với các trường hợp vi phạm, đồng thời phải gắn với quyền và bổn phận của từng chủ thể giám sát. Trong trường hợp DN gặp những rủi ro thì phải tiến hành vấn đề giám sát đặc biệt. Đích của Nghị định số 61/2013/NĐ-CP:    Một là,    giám sát tài chính nghĩa là đánh giá đúng được thực trạng tài chính của DN, những nguy cơ tiềm tàng dẫn đến rủi ro tài chính.

Như vậy là chúng ta đã làm ngược, xem kết quả rồi mới giám sát. Năm là,    thực hành công khai sáng tỏ thông báo về tình hình tài chính của DN theo từng đối tượng hấp thu thông tin (chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà nước, người lao động, nhà đầu tư) để các đối tượng tiếp thu thông tin nắm bắt được thực trạng tài chính DN. Tóm lại, với một Quy chế mới ban hành, cần phải sang trọng thời kì mới có thể đánh giá được hiệu quả.

#. Quy chế giám sát tài chính kèm theo Nghị định số 61/2013/NĐ-CP đã khắc phục các khuyết thiếu của cơ chế hiện hành. Ngược lại, do sự tự chủ của cơ chế này nên nếu những DN nào không quan hoài, không chú trọng các vấn đề trên thì sẽ dẫn đến việc kiểm soát đề phòng rủi ro không thực hành được.

Theo Kiểm toán Cuối tháng. Tiếp đó là Quyết định số 169/2007/QĐ-TTg ngày 8/11/2007 (thay thế Quyết định số 271/2003/QĐ-TTg) để giám sát những DN có rủi ro về tài chính. Cũng trong tuổi đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2013/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế giám sát tài chính và Bộ Tài chính cũng đã có một số văn bản hướng dẫn quản lý và giám sát tài chính đối với vốn nhà nước tại các DNNN, như: Quyết định số 271/2003/QĐ-TTg ngày 31/12/2003, khi ra đời Luật DNNN 2003, Quyết định số 224/2006/QĐ-TTg ngày 6/10/2006, khi chúng ta sửa đổi để hợp với việc hội nhập.

Ngày 25/6/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2013/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông báo tài chính đối với DN do nhà nước làm chủ sở hữu và DN có vốn quốc gia.

Qua đánh giá, chúng tôi rút ra được một số vấn đề bất cập của mô hình này như sau:    Thứ nhất  ,   về nội dung giám sát, trong các quy chế đã quy định tương đối cụ thể về vấn đề đánh giá hiệu quả, do đó, các DN, các chủ sở hữu là các bộ, ngành, địa phương cốt yếu tập hợp đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả để phân loại, sau đó tiến hành các cơ chế khen thưởng, phân chia các nguồn thu nhập sau thuế.

Thành ra, tính kịp thời trong giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của DN còn hạn chế, tính cảnh báo phòng ngừa chưa được phát huy, kết quả giám sát đánh giá đẵn để khắc phục hậu quả. Cụ thể là: - Ban hành các tiêu chí giám sát tài chính cụ thể tại DN; - Nội dung các tiêu chí giám sát theo hướng đánh giá đúng, đủ và sát tình hình hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh dinh của DN và một bước tách bạch các nhân tố xã hội; - Làm rõ các chỉ tiêu ít giúp DN thực hành đúng quy định về ít, công khai tình hình tài chính, minh bạch xác thực hơn kết quả hoạt động của DN; - Quy định cụ thể về trách nhiệm về quản lý và giám sát tài chính DN của chủ sở hữu, của DN và của cơ quan quản lý quốc gia về tài chính; - Đưa ra các chế tài xử lý đối với các tổ chức, cá nhân chủ nghĩa nếu không thực hành trang nghiêm các nội dung giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động DN mà Quy chế đã nêu.

Trên thực tế cũng đã xảy ra tình trạng một số DNNN có vi phạm trong vấn đề sản xuất kinh dinh, đầu tư và quản lý vốn, tài sản nhà nước nhưng chưa kịp thời phát hiện và có biện pháp chấn chỉnh hữu hiệu. Quy chế giám sát tài chính kèm theo Nghị định số 61/2013/NĐ-CP đã khắc phục các khuyết thiếu của cơ chế hiện hành. Tụ tập vào vấn đề giám sát trước và trong, thay vì chỉ giám sát sau và giám sát tuân thủ.

# Hơn vào hệ thống số liệu mà các DNNN công bố và có bộ phận kiểm chứng để lấy lại niềm tin đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng như trong từng lớp. Ba là,    hệ thống các tiêu chí giám sát tài chính bảo đảm đầy đủ nội dung cấp thiết, có tính đến thuộc tính ngành nghề, đảm bảo đề nghị của từng chế độ ít. Về quy định nghĩa vụ, trong cơ chế hiện hành, chúng ta cũng chưa quy định rõ đâu là nghĩa vụ của DN, đâu là bổn phận chủ sử hữu, đâu là của cơ quan quản lý, dẫn đến tình trạng chủ sở hữu không nắm được và cơ quan quản lý quốc gia xuống giám sát thì cũng không có dụng cụ để tiến hành.

Trong vấn đề về ban hành văn bản, chúng ta cũng đưa ra một nguyên tắc cơ bản để DN tự chủ, tự giám sát, cơ quan quản lý và giám sát của nhà nước là Bộ Tài chính sẽ là cơ quan tổng hợp về bẩm giám sát đó, định kỳ vắng cho Chính phủ và Quốc hội.

Chế tài xử lý đối với các vi phạm trong việc giám sát, đánh giá hiệu quả DN cũng chưa đầy đủ, rõ ràng và chưa đảm bảo được tính răn đe. Nguồn: internet  Những bất cập của mô hình giám sát hiện hành…  Về mô hình quản lý giám sát, ngay từ năm 2001, khi chúng ta khai triển vấn đề đổi mới, xếp đặt và canh tân DN, Chính phủ Việt Nam đã có sự quan tâm và hội tụ rất mạnh vào vấn đề giám sát và quản lý phi tài chính đối với DN có vốn nhà nước.

Thứ hai  ,  bộ tiêu chí giám sát chỉ tụ hợp vào việc đánh giá hiệu quả, còn các tiêu chí giám sát để đề phòng rủi ro lại giao cho DN tự xây dựng, cứ vào những quy định của các chuẩn kế toán, của DN dẫn đến tình trạng mỗi DN có một bộ tiêu chí khác nhau.

Trong quy chế đặc biệt, Nghị định cũng đã đưa ra những dấu hiệu, quy trình và xử lý sau khi giám sát đặc biệt.

Những DN nào quan tâm đến việc giám sát rủi ro, an toàn về tài chính, đã tiếp cận với những cơ quan tham vấn, các hiệp hội, đặc biệt các cơ quan kế toán, kiểm toán, phối hợp với việc hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin ở trong DN… thì đảm bảo được vấn đề giám sát tốt và hiệu quả.

Tuy nhiên, với sự chuẩn bị từ năm 2011 đến nay, nhìn nhận những quy định của Nghị định số 61/2013/NĐ-CP sẽ đáp ứng được đề nghị và nhu cầu của hiện tại và trong ngày mai sắp tới.

Trong quá trình giám sát, các cơ quan chủ thể giám sát sẽ được tiếp cận bẩm của các cơ quan thanh tra và kiểm toán của nhà nước đối với khu vực có vốn nhà nước. Nghĩa vụ kiểm soát của cơ quan nhà nước tiến hành cốt là giám sát tuân thủ, vậy, nó hoàn toàn không có tác dụng hăng hái trong việc đề phòng, cảnh báo.

Kết quả đạt được đã tạo dựng được cơ chế cho DN chủ động giám sát. Nếu lãnh đạo DN không quan tâm hoặc vì một lý do tư lợi nào đó sẽ rất dễ dẫn đến việc biến bộ tiêu chí phục vụ cho ích lợi bản thân trong DN. -  Đối với chủ sở hữu DN:  phải thẳng giám sát trước và trong đối với DN có vốn quốc gia. Dần dần, những tiêu chí đánh giá hiệu quả đã trở thành tiêu chí để quay lại giám sát.

…Và sự an toàn trong mô hình giám sát mới  Từ năm 2010, khi Luật DNNN đã hoàn tất sứ mạng lịch sử, chúng ta bước sang thời kỳ các DN có vốn quốc gia, các DN 100% vốn quốc gia được hoạt động bình đẳng với các loại DN khác thì Chính phủ cũng đã đề nghị các bộ, ngành nghiên cứu một mô hình giám sát theo hướng giám sát và cảnh báo, phòng ngừa; còn hệ thống giám sát tuân đã có các cơ quan thanh tra, rà, Kiểm toán quốc gia thực hiện.

Căn nguyên của tình trạng này là bởi bộ tiêu chí giám sát này phân theo ngành nghề và song song lại có cả những tiêu chí hiệu quả của hoạt động kinh doanh.

-  Đối với cơ quan quản lý tài chính DN:  phải có trách nhiệm giám sát thẩm tra việc tổ chức thực hiện giám sát của chủ sở hữu DN, giám sát việc chấp hành luật pháp và tổng hợp vắng để công khai trước Quốc hội và quần chúng. Chế tài xử lý phân cấp trên cả ba khâu, từ DN, chủ sở hữu gồm các bộ, ngành và các Ủy ban quần chúng và các cơ quan quản lý nhà nước.